Các sự cố có thể xảy ra trong quá trình vận hành lò hơi

Nồi hơi ( lò hơi) là một thiết bị được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp. Trong quá trình vận hành nồi hơi, có thể xảy ra những sự cố không mong muốn. Sau đây là những sự cố có thể xảy ra và phương pháp xử lý với từng trường hợp cụ thể.

CÁC SỰ CỐ CÓ THỂ XẢY RA TRONG QUÁ TRÌNH VẬN HÀNH LÒ VÀ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ

STT Sự cố Hiện tượng Nguyên nhân Xử lý
1 Cạn nước nghiêm trọng  -Ống thủy sáng không còn nước mà chỉ còn một màu sáng óng ánh khi quan sát.

-Mở van thấp nhất của ống thủy tối không có nước chảy ra mà chỉ có hơi phụt ra.

-Áp suất tăng nhanh, van an toàn tác động liên tục.

-Toàn bộ nồi hơi nóng hơn mức bình thường.

 

-Công nhân vận hành không theo dõi ống thủy để cấp nước thêm kịp thời.

-Van xả đáy không kín.

-Bơm cấp nước  hỏng, bơm vẫn chạy nhưng nước không vào được nồi hơi.

-Hệ thống ống cấp nước bị tắc hoặc bồn chứa nước trung gian không đủ nước, bơm không có tác dụng.

 

Tiến hành  thông rửa ống thủy.

1. Nếu thấy nước lấp ló chân ống thủy, sang thì nồi hơi chưa cạn nước tới mức nghiêm trọng.

Trường hợp này tiến hành cấp nước bổ sung phân đoạn kết hợp với việc xả đáy phân đoạn, đồng thời giảm cường độ đốt bằng cách giảm lượng dầu cung cấp cho béc đốt hoặc tắt hẳn béc đốt. Khi mực nước trở lại vị trí trung gian của ống thủy sáng, cho nồi hơi trở lại hoạt động.

2. Khi tiến hành thông rửa ống thủy mà không thấy nước trong ống thủy, mở nhanh van thấp nhất của ống thủy tối cũng chỉ thấy hơi phụt ra thì nồi hơi bị cạn nước nghiêm trọng. Trong trường hợp này cấm tuyệt đối cấp nước bổ sung, công nhân vận hành cần nhanh chóng thao tác ngừng máy sự cố như sau :

  • Đóng lá hướng khói, tắt quạt gió .
  • Tắt béc đốt, ngừng cung cấp dầu cho béc đốt.
  • Đóng van hơi chính .
  • Đóng tất cả các cửa tránh không khí lạnh lọt vào buồng tối.

Sau khi ngừng lò có sự cố, cần để thời gian cho nồi hơi nguội từ từ. Khi áp suất giảm dưới mức làm việc bình thường, cần kiểm tra các bộ phận liên quan, đặc biệt các bề mặt tiếp nhiệt, sau đó tiến hành xử lý như trường hợp trên.

Khi xác định van xả đáy không kín, nước chảy mạnh qua đường xả đáy hoặc van một chiều  không kín, đường cấp nước (từ bơm tới nồi hơi) nóng quá mức bình thường, phải tiến hành ngừng hoạt động. Xử lý giống trường hợp cạn nước nghiêm trọng.

2 Mức nước quá đầy  – Nước ngập ống thủy và nghe thấy tiếng va dập thủy lực bên trong nồi hơi.

– Áp suất hơi giảm, hơi nước cấp bên tiêu thụ lẫn nhiều nước ngưng.

–  Đỉnh ống thủy có bọt khí

– Khi tiến hành cấp nước bổ sung nước cho nồi hơi, công nhân không quan sát ống thủy sáng để ngưng bơm kịp thời.

– Cường độ đốt cao, bên sử dụng ít hoặc ngưng sử dụng hơi. Trong trường hợp này mức nước trung bình của ống thủy có thể vượt quá mức cho phép cao nhất.

1. Thông rửa ống thủy, giảm bớt cường độ đốt, xả đáy để mức nước trở lại bình thường.

2. Xả nước trên đường cấp hơi, sau đó cho nồi hơi hoạt động trở lại.

 

3 Ống thủy báo mực nước giả tạo – Mực nước trong ống thủy đứng yên, không giao động lên xuống.

– Hai ống thủy sáng báo hai mức nước khác nhau.

 

– Trong các ca vận hành, công nhân không thực hiện thông rửa ống thủy.

– Ống thủy bị tắc sau khi thông rửa.

 

1. Tiến hành thông rửa ống thủy, sau khi thông, mức nước trong ống thủy phải dao động.Căn cứ vào mức nước này, ta biết nồi hơi đang trong tình trạng nào để xử lý tiếp,theo từng trường hợp cụ thể.

2. Đặc biệt chú ý :

– Mỗi ca vận hành cần thông rửa ống thủy đầu ca và giữa ca như quy định trong quy trình vận hành.

– Mực nước giả tạo trong ống thủy nếu không được phát hiện kịp thời sẽ dẫn đến các sự cố đầy nước quá mức hoặc cạn nước nghiêm trọng, nếu không kịp thời xử lý sẽ dẫn đến hậu quả vỡ nồi hơi.

4 Áp suất tăng quá mức cho phép  – Van an toàn tác động liên tục, đồng hồ áp lực chỉ trị số cao hơn áp suất làm việc bình thường – Van an toàn không tác động hoặc tác động không kịp thời, tác động không hết công suất do kẹt.

– Cường độ đốt tăng quá mức bình thường.

– Bên tiêu thụ ngừng việc lấy hơi, trong khi bên cung cấp vẫn hoạt động

1. Giảm cường độ đốt, đóng lá hướng khói.

2. Mở van xả khí hoặc mở cưỡng chế van an toàn (kéo van an toàn bằng tay)

3. Xả đáy gián đoạn kết hợp với cấp nước bổ sung.

 

5 Phồng, nổ ống của phần trao đổi nhiệt  – Nhìn qua cửa kiểm tra vào buồng đốt thấy bộ phận của diện tích tiếp nhiệt bị phồng.

– Hoặc nghe thấy tiếng nổ ống sinh hơi ( ống lò, ống lữa ) bên trong lò, hơi nước thoát ra ống khói, áp suất tụt nhanh.

– Trong các đợt định kỳ sửa chữa, bảo dưỡng,  không làm vệ sinh sạch cáu cặn, bẩn trên bề mặt kim loại của phần bị đốt nóng.

– Không phát hiện được các chỗ yếu cục bộ do ăn mòn để xử lý trước.

– Chất lượng nước cấp không bảo đảm.

– Nồi hơi trong tình trạng cạn nước nghiêm trọng.

1. Tiến hành thao tác ngừng lò sự cố bằng cách :

+ Tắt béc đốt

+ Tắt quạt gió

+ Đóng lá hướng khói

2. Khi nồi hơi có chỗ phồng thì nhanh chóng hạ áp suất bằng cách mở van xả khí và cưỡng chế  mở van an toàn.

3. Để nguội nồi, tiến hành kiểm tra và sửa chữa chỗ phồng.

6 Nổ vỡ ống thủy sáng – Nghe tiếng nổ vỡ ống thủy tinh, nước và hơi bốc ra mù mịt. – Lắp ống thủy tinh không đồng tâm nên ống thủy tinh bị nứt tế vi.

– Do nước lạnh bắn vào hoặc do vật cứng va vào.

1. Đóng các đường hơi và đường nước để thay ống thủy tinh mới.

2. Không có ống thủy tinh dự trữ thì  ngừng hoạt động khẩn cấp của nồi hơi.

7 Áp kế bị hỏng hoặc không chính xác – Mặt kính bị vỡ.

– Khi kiểm tra áp kế, lúc ngắt kim không trở về vị trí số 0 mà lệch với vị trí “0” trị số lớn hơn ½ trị số cho phép.

– Hơi và nước tràn đầy mặt kính.

– Không kiểm định đồng hồ hằng năm.

– Do tác dụng của ngoại lực.

1. Trong trường hợp mặt kính vỡ, nhưng áp kế vẫn hoạt động tốt cho phép làm việc đến hết ca.

2. Các trườn g hợp khác phải thay áp kế mới và báo cho nhà cung cấp

8 Van xả bẩn bị hỏng – Sau khi xả bẩn xong, đóng van xả lại thấy vẫn tiếp tục rò rỉ nước ở cuối ống xả, toàn bộ ống xả sau van xả bị nóng liên tục.
Nếu bị xì nặng thì thấy nước thoát ra mạnh và thấy kim áp kế giảm xuống tương đối nhanh.
– Do nắp đậy bị mòn vẹt khi đóng vào đậy không kín, nước hơi theo khe hở rò rỉ ra ngoài (gây hư hỏng nhẹ).
– Do nắp đậy bị kênh bởi những lớp cặn cứng hay kênh bởi một vật gì bỏ sót lại trong nồi hơi khi sửa chữa nồi hơi, nước thoát ra tương đối nhiều (gây hư hỏng nặng).
– Cũng có khi do trục vít của van bị gấy đứt, làm cho nắp đóng không khí hay kênh hẳn lên bệ đỡ nắp van, mà không đóng thêm tí nào nữa.
– Kiểm tra lại van xả một lần nữa bằng cách mở van lên, đóng xuống thật chặt (bằng tay không) nếu thấy van xả vẫn rò rỉ mạnh th ì phải đóng ngay van chặn (lắp sát nồi hơi) và đóng cả van xả lại nghe nóng một lát nữa. Nếu nước vẫn thoát ra liên tục, thì nhanh chóng chạy bơm nước bổ sung vào nồi hơi và ngừng lò sự cố. Trong qúa trình lò giảm nhiệt độ phải chú ý bơm cấp nước bổ sung vào nồi hơi, giữ cho mức nước trong nồi luôn luôn trên mức trung bình.
– Nếu xác minh rõ ràng là chỉ có một van xả ngoài bị hỏng thì có thể đóng chặt van chặn ở trong lại, sửa chữa hay thay thế van xả đáy, rồi cho hai
van này làm việc lại thử thấy tốt thì cho nồi hơi làm việc lại như thường, nhưng phải hết sức chú ý đề phòng bị hỏng.
9 Van an toàn hỏng – Đóng không kín khi áp suất chưa cao quá mức cho phép.

– Vượt quá áp suất cho phép mà vẫn không làm việc.

– Bề mặt tiếp xúc của van bị mòn không đều, bị vênh.

– Kẹt cứng lò xo hoặc các bộ phận cơ khí do bẩn.

1.Trường hợp van an toàn không đóng kín và lượng hơi thoát ra không nhiều và sau khi sả cưỡng chế thì van vận hành bình thường thì cho phép vận hành đến hết ca, sao đó ngừng lò để kiểm tra sửa chữa.

2. Trường hợp sau khi cưỡng chế sả mà van vẫn lỗ phải ngừng hoạt động của lò để thay thế hoặc sửa chữa xong việc phải báo cho Thanh tra ATLĐ kiểm định và kẹp chì lại.

 

10 Cụm van cấp nước bị hỏng – Cụm van cấp nước gồm có 1 van chặn (hay còn gọi là van liên thông) và 1 van 1 chiều (hay còn gọi là van triệt hồi), van 1 chiều lắp sát nồi hơi.
Khi cụm van này bị hỏng thường gây ra hiện tượng hơi nước trong nồi rò trở lại bơm cấp nước qua hệ thống ống cấp nước, khi đường ống này
nghỉ, 2 van đã đóng chặt nhưng vẫn thấy đường ống nóng bỏng.
– Khi nồi hơi làm việc chung trong hệ thống cấp nước thì thấy mực nước của nồi hơi cứ dâng cao (mặc dù các van cấp nước đã đóng kín) khi các
nồi hơi khác lấy nước, vì nước rò qua các van này vào nồi hơi đó.
– Cũng có khi thấy bơm nước không vào nồi hơi nước dù van liên thông đã mở hết mức.
– Trong qúa trình cụm van này làm việc nước chảy qua nắp đậy và bệ đỡ nắp của van (cờ – láp – pê và xi – e – van), trong nước có mang theo các tạp chất, đất cát bào mòn nắp và bệ nắp van, vì vậy khi đã đóng hết mức cụm van vẫn không kín.
– Cũng có khi do nước lọc không kỹ, nắp đậy của van khi đóng xuống vướng phải những vật cứng như sỏi đá, làm vênh nắp van, đóng không kín.
– Nắp đóng tự động của van một chiều bị kẹt cứng không hạ xuống được (kẹt giữa trục van với lỗ giữ và hướng trục) nếu nước có thể rò qua nắpđậy của van một chiều được.- Nếu nắp đậy của van một chiều bị kẹt cứng không nâng lên được, thì mặc dù bơm chạy, van liên thông đã mở, nhưng nước không vào nồi hơi.
Sự cố hỏng cụm van cấp nước, thường đưa tới những hậu qủa nghiêm trọng:
+ Nếu bơm chạy van hỏng, nước không vào được thì dễ gây ra sự cố cạn nước nghiêm trọng mà không biết.
+ Nếu bơm chạy, van đóng chặt (để lấy nước vào lò khác) mà nước vẫn vào lò hơi, thì dễ gây ra sự cố đầy nước quá mức mà không biết.
+ Nếu lò hơi đang làm việc, van đóng chặt mà nước, hơi vẫn rò trở lại ống, bơm cấp nước, thì rất dễ gây hư hỏng cho bơm (vì làm cho nhiệt độ nước cấp quá 50oC, cánh bơm dãn nở có thể sát vỏ bơm) hoặc gây tai nạn bỏng cho công nhân chạy bơm khi gioăng đệm của bơm bị phá, hoặc gây tai nạn bỏng cho công nhân chạy bơm khi gioăng đệm của bơm bị phá, hoặc
làm cho việc sửa chữa, các đường ống nước, các van nước, các mặt bích nổ trước, gặp nhiều kho khăn và không an toàn
– Nếu cụm van này bị xì, rò rỉ hơi nước nhẹ thì có thể tạm thời để cho nồi hơi đó làm việc đến kỳ sửa chữa gần nhất, nhưng không quá 1 tháng, đồng thời phải có biện pháp bảo vệ bơm cấp nước không bị hỏng do nước quá nóng, bằng cách thỉnh thoảng xả nước nóng đọng trong hệ thống ống cấp nước và trong bơm ra ngoài, khí phải sửa chữa những bộ phận của hệ thống đường ống hay bơm cấp nước, phải xả được hết nước còn lại trong ống ra ngoài mới tiến hành sửa chữa.
– Nếu cụm van này bị hỏng nặng, nước hơi rò ra rất mạnh hay ngược lại bơm nước không vào… nhất thiết phải ngừng lò sự cố.
11 Chảy đinh chì ở Balông  – Chân đinh có hiện tượng chảy – Đinh chì có tác dụng bảo hiểm cho Balông (hay của ống lò) trong trường hợp cạn nước nghiêm trọng, trong trường hợp người công nhân vận hành.

 

1. Đối với nồi hơi có đinh chì bảo hiểm, việc chảy đinh chì là sự cố hết sức nghiêm trọng, làm giảm tuổi bền đáng kể của thiết bị.

2. Trong trường hợp này phải báo cho thanh Tra ATLĐ đến lập biên bản, tổ chức điều tra sự cố, kiểm tra lại độ bền của nồi hơi, tiến hành bảo dưỡng, sửa chữa mới được phép vận hành lại.

12 Ghi lò bị kẹt hay cháy gẫy * Đối với ghi xích tự động, thường xảy ra những hiện tượng sau đây;
– Ghi lò đang chuyển động đột nhiên ngừng lại, phần ghi ở giữa lò bị nóng quá mức, nếu bị ngừng lâu có thể bị cháy phần ghi này và gây ra hiện
tượng biến dạng ở các bộ phận khác của ghi lò.
– Ghi lò đang chuyển động bình thường đột nhiên chuyển động bất thường khi nhanh khi chậm lại cũng có khi ngừng lại một chút rồi lại chạy tiếp
tục.
* Đối với ghi tinh thủ công. Thường xảy ra những hiện tượng sau đây:
– Hỏng ghi lật, ghi lắc (thường thấy trong các nồi hơi ống lửa, Bun – ga – ri, dầu xe lửa…) khi đã đánh lò xong lột hoặc lắc ghi cho xỉ tro rơi xuống
gầm lò, lúc đóng lại mặt ghi không thăng bằng nữa, mặt ghi lò mặt các tấm ghi lật, ghi lắc có một khoảng trống, giò lùa mạnh vào ở vùng đó, than
sẽ lọt xuống gầm lò qua khoảng trống đó.
– Hỏng ghi tĩnh – lò đang làm việc thấy sụt một khoảng than ở mặt ghi, thấy ghi cháy và than cháy dở rơi xuống gầm lò, cũng có khi chỉ thấy ghi lò
biến dạng vòng xuống chưa gẫy và rơi hẳn xuống gầm lò.
Nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng cháy, gẫy, kẹt ghi lò (các loại) là do sử dụng không khí trong buồng đốt không đúng quy định, cung cấp ít gió quá làm cho mặt dưới ghi không đúng quy định, cung cấp ít gió quá làm cho mặt dưới ghi không được làm mất kịp thời, bị nóng quá mức gây ra cháy,gẫy ghi, nếu mặt xích ghi rơi vào các bánh xe răng truyền động ghi xích thì gây ra kẹt ghi không chạy được nữa.
Đối với các ghi lắc, ghi lật, ngoài nguyên nhân và nhiệt cũng có thể do nguyên nhân cơ khí gây ra như gẫy chốt hãm (cờ – ra – vet) trục quay ghi lật, ghi lắc, hay ổ chứa trục ghi bị mòn rộng quá khi đóng xuống ghi không vào đúng khớp cũ, bị kênh lên hay chưa tới mặt nằm ngang.
Ngoài ra còn do những nguyên nhân sau đây:
– Dùng những gậy sắt, cào sắt quá nặng ném vào mặt ghi làm ghi vỡ, nứt.
– Chế tạo ghi lò bằng những gang quá xấu không chịu được nhiệt độ cao
– Do khung đỡ mặt ghi bị hỏng làm sụt một phần gặt ghi hay một số thanh ghi
+ Đối với ghi xích
– Nếu một vài lá mặt ghi bị cháy gẫy mà không gây kẹt ghi, thì phủ thêm than lên mặt ghi (tăng khe hở của tấm điều chỉnh than), duy trì quạt gió đều và ở mức tương đối lớn, cho ghi chạy từ từ tới khi thấy chỗ hỏng ở cửa kiểm tra ghi lò, sẽ ngừng ghi lại, nhanh chóng thay các lá ghi bị hỏng tuyệt đối cấm tắt quạt gió ở gầm ghi khi ghi lò đang dừng lại, vì làm như vậy ghi lò sẽ bị nóng quá mức và để xảy ra sự cố nghiêm trọng trên toàn bộ mặtghi lò.
– Nếu vì lý do nào đó ghi lò bị kết, thì cho ghi lò chạy ngược trở lại một đoạn 2m, sau đó lại cho lò chạy lại như chiều bình thường, nếu ghi lòchuyển động được thì chỉ cần xem kỹ mặt ghi nếu thấy cháy một vài lá ghi thì thay như vừa trình bày ở trên.
Nếu ghi lò không chạy ngược ở lại được hay trở lại được nhưng khi chạy xuôi qua chỗ ghi hỏng lại bị kẹt, nhất thiết phải ngừn g lò sự cố.
+ Đối với ghi tĩnh đốt thủ công
– Khi hỏng ghi lật, ghi lắc phải ngừng lò sự cố, để sửa chữa những ghi hỏng.
– Khi hỏng (gẫy, võng) những ghi tĩnh: tấm hay thanh có thể dùng các thanh sắt đánh lò, buộc các ghi mới bằng dây thừng đưa vào đúng nơi thay ghi, dây cháy dớt, ghi sẽ nằm vào đúng vị trí thay thế cho ghi cháy hỏng. Những ghi đã võng xuống dù chưa hỏng gẫy hẳn cũng phải thay ghi khác như phương pháp vừa nêu trên.
Chú ý: trong qúa trình thay ghi thủ công phải mở hết cửa hút gió ở gầm ghi, hạn chế mở cửa cho than, tuyệt đối cấm chạy quạt đẩy khi thay ghi, vì
13 Cường độ đốt giảm – Nhiên liệu đủ nhưng lửa không bốc – Thiếu gió cung cấp cho sự cháy.

– Nghẹt đường thoát khói

1. Cấp thêm không khí cho buồng đốt.

2. Tăng lưu lượng hút khói.

3. Điều chỉnh tỷ lệ nhiên liệu đốt cho phù hợp

14 Sụt tường, cuốn lò, hỏng các phần bảo ôn trong lò – Khi tường, cuốn lò bị sụt thì nghe thấy tiếng động khác thường trong buồng lửa, đường mương dẫn khói, đồng thời thấy lửa khói lùa ra cửa cho
than, tùy theo tường cuốn sụt nhiều hay ít, lửa sẽ lùa ra dài hay ngắn. Nếu tường cuốn lò bị sụt mà không phát hiện kịp thời có thể gây ra hiện
tượng nứt tường lò nghiêm trọng, cháy đỏ những giá đỡ, khung lò hơi…
– Khi các phần bảo ôn bị hỏng, thì phải kiểm tra, bằng các cửa kiểm tra, có thể thấy các sợi amiăng cách nhiệt ở các góc tường lò, hay giữa tường
lò với các mặt tiếp nhiệt bị tung ra, rơi võng xuống, hay thấy gạch, sợi amiăng bảo ôn các ống xả đáy nồi (nằm trong lò hơi) hay thấy gạch bảo ôn
các giá đỡ nồi hơi bị rò, trong thấy các giá đỡ.
Chủ yếu là do xây lắp không đúng quy cách: để mạch gạch qúa rộng (trên 3mm), vữa gạch chịu lửa chọn không đúng công thức, gạch định hình xây các cuốn lò không đúng hình dáng thiết kế cuốn lò…
– Do các vật chẳng giữ, dỡ tường, cuốn lò bị hỏng làm cho tường cuốn bị sụt.
– Do các bộ phận dãn nở trong nồi hơi không được tự do, bị các tường cuốn chèn đặt lại.
– Do gạch và các chất bảo ôn (amiăng sợi, amiăng tấm) đã quá cũ, bị ẩm nhiều lần khi sửa chũă, chưa được thay vật liệu mới.
– Nếu tường cuốn lò các phần bảo ôn bị sụt ít, nhẹ, không làm lộ những khung, giá, bệ đỡ… bằng kim loại ra, đường lùa khói chạy và không có nguy cơ làm nứt tường lò phía ngoài, thì cho phép lò làm việc tiếp tục đến kỳ sửa chữa gần nhất, nhưng không quá 1 tháng.
– Nếu tường, cuốn lò, các phần bảo ôn bị sụt nhiều, nặng, làm cản trở việc thoát khói trong nồi hơi, làm cho các khung, giá, bệ đỡ của nồi hơi bị nóng đỏ, phải ngừng lò sự cố để sửa chữa.
15 Nhiệt độ nước cấp cao – Do sử dụng nước thu hồi

to  = 70 + 80oC, nên khi đưa qua bộ phận hâm, nước có thể nóng quá mức cho phép.

– Trong thời gian dài không cấp thêm nước cho nồi hơi.

– Điều chỉnh lưu lượng không khí nóng qua bộ hãm bằng cách mở to đường thoát khói trực tiếp.

– Cho nước trong bộ hâm hồi lưu trở lại bồn chứa trung gian.

16 Cháy nổ ở mương dẫn khói – Thấy cháy, đôi khi có tiếng nổ ở mương dẫn khói (từ nồi hơi ra ống khói), làm vỡ những màng bảo hiểm ở mương dẫn khói, bật tu ng các nắp đậy
các hộp chứa tro (nặng 30 – 40kg) thậm chí, nếu cháy nổ lớn sẽ gây ra hoả hoạn tại đó.
– Thấy lửa khói phụt mạnh ra cửa cho than, có khi làm bật tung cả chốt hãm cửa cho than
Sau đó toàn bộ nhà lò bị khói bụi phủ kín, việc cháy của nhiên liệu giảm dần, áp suất hơi tụt xuống.
– Do trong qúa trình đốt cháy, nhiên liệu chưa cháy hết, trong khói ra khỏi nồi hơi còn chứa một lượng khí CO và các khí cháy được khác khá nhiều, khi nhiệt độ khói đột ngột tăng cao (quá 250oC) và việc thoát gặp trở ngại, như bị tro lấp một phần thân ống khói hay trời mưa làm khói thoát ra khó… khi ấy ở mương khói sẽ xảy ra các phần cháy của các phần nhiên liệu còn lại và gây ra tiếng nổ, tuỳ theo tỷ lệ hỗn hợp các khí cháy và oxy các phản ứng đó gây ra tiếng nổ mạnh hay yếu. Khi nổ thể tích tăng, áp suất trên đường mương khói tăng sẽ gây ra những hiện tượng vừa nêu ở trên – Nếu nổ cháy nhỏ, không gây ra sụt đổ đường mương dẫn khói, không cản trở đến việc thoát khói… thì nhanh chóng tắt quạt gió, các cửa hút gió gầm ghi đóng chặt lại, đậy kín các nắp ở mương khói bị bật ra, tìm những tấm cách nhiệt, bịt vào các màng bảo vệ. Nếu gây cháy ra ngoài, phải sửa chữa ngay bằng các trang bị phòng hoả, khi lò đã trở lại bình thường thì mở từ từ quạt gió để kiểm tra, xem xét các hiện tượng, nếu không xảy ra vấn đề gì mới cho nồi hơi làm việc tiếp tục.
– Nếu cháy, nổ lớn, mương khói vỡ tung, nhất thiết phải ngừng lò sự cố và đề phòng hoả hoạn ở nhà lò.
17 Lưỡi lửa ngắn, có hiện tượng quạt trở lại (dội lửa) – Lượng hút không đảm bảo hoặc quạt hút khói không hoạt động.

– Hệ thống đường ống hút bị tắc.

 

– Điều chỉnh lưu lượng hút cho phù hợp.

–  Làm vệ sinh nếu đường hút bị tắc.

 

19 Quạt, bơm của lò hơi bị hỏng – Thường gặp nhất là khi ấn nút khởi động bơm, quạt không thấy bơm quạt chạy.
– Bơm quạt có chạy, nhưng không đủ nước, gió cung cấp cho nồi hơi.
– Bơm quạt chạy không bình thường: Tốc độ chậm, kêu to, nóng ở các gối đỡ trục (nhiệt độ quá 60oC)
– ấn nút khởi động mà bơm, quạt không chạy là do: điện vào môtơ mất 1 pha, hay giữa phần quay (rôto) với phần tĩnh (stato) của môtơ điện sát nhau, hoặc cuộn dây của môtơ kéo bơm, quạt bị cháy do ầm quá trước khi chạy không kiểm tra độ cách điện.
– Bơm quạt có chạy, nhưng không đủ nước, gió cung cấp cho nồi hơi là do: cánh bơm quạt, bị hỏng: gẫy, mòn quá… hoặc do tốc độ không đủ: trượt dây cu-roa.
Phải cắt ngay điện, ngừng quạt, ngừng bơm lại, báo cho thợ điện, thợ cơ khí đến sửa chữa, tuyệt đối cấm đóng điện, chèn, lần hay lấy vật gì chèn các tiếp điểm chèn nút bấm khởi động thử các bơm dự phòng xem có làm việc tốt không để sẵn sàng cấp nước khi cần thiết.
Ghi chú:
Trong qúa trình vận hành nồi hơi còn gặp những sự cố, những hư hỏng khác nữa, nhưng nó không phổ biến xảy ra trong các nồi hơi như sự cố “tụt” đanh chì, hỏng bộ sấy hơi, bộ hâm nước – nên ở đây không giới thiệu, mà đã nói ở các phần cấu tạo của các bộ phận đó.
20 Đường thoát khói nghẹt  – Có hiên tượng khói phì ra cửa đốt, đặc biệt khi bật quạt lò và khi mở cửa lò, ống khói thoát yếu – Do van gió trong đường ống bị bít lại, hoặc có vật lạ rơi vào gây nghẹt đường ống 1. Vệ sinh định kỳ ống lửa, buồng lửa, buồng khói, đường thoát khói.

2. Trong trường hợp bị tắc nghẹt, phải ngừng lò và làm vệ sinh.

21 Hiệu suất nồi hơi giảm  – Lửa đốt ổn định mà áp sinh hơi của lò kém, đốt lò lâu tăng áp – Do không vệ sinh thường xuyên ống lửa bị bẩn, muội bám.

– Do nước cấp không đảm bảo (nước có độ cứng cao, có cặn bẩn) dẫn đến đóng cặn trong lò.

Tiến hành vệ sinh theo đúng quy trình, nếu có liên quan đến sủ dụng hóa chất thì phải do công nhân hiểu về hóa chất tiến hành.

 

Chú ý

  1. Mọi sự  cố xảy ra và cách xử lý sự cố phải ghi chép đầy đủ vào sổ giao ca, báo cho cán bộ quản lý nhà lò,  quản đốc phân xưởng. Nhà máy phải lập đoàn thanh tra xác định nguyên nhân đề ra biện pháp khắc phục
  2. Các sự cố có ảnh hưởng tới độ bền của nồi hơi phải ghi vào lý lịch nồi hơi : nguyên nhân, cách xử lý, sau đó tiến hành kiểm tra lại độ bền của nồi hơi, có sự chứng kiến của thanh tra ATLĐ.

Đối với các sự cố gây tai nạn lao động, làm chết người và hư hỏng tài sản, phải tiến hành các bước theo đúng quy định tại Chương XV – Quy phạm QPVN 23 – 81 về an toàn lao động đối với thiết bị chịu  áp lực và nồi hơi do Nhà nước

Trên đây là bài viết về các sự cố có thể xảy ra trong quá trình vận hành lò hơi , học viên có nhu cầu học và cấp chứng chỉ vận hành lò hơi xin vui lòng liên hệ với chúng tôi:

Mọi thông tin  chi tiết anh/ chị xin vui lòng liên hệ:

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN VÀ ĐÀO TẠO NAM Á

Địa chỉ: Số 399 Trường Chinh, Q. Đống Đa, TP Hà Nội

Phone: 0934 586 963 – 0986 679  105 (Ms Thơm)

Email: thom.viendaotao@gmail.com

Skype: thom.viendaotao

Website: daotaocapchungchi.vn

 

Bài Viết Liên Quan